Chào mừng quý vị đến với Website của Đào Thị Xuân.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Chữ LỄ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ST
Người gửi: Đào Thị Xuân (trang riêng)
Ngày gửi: 03h:58' 04-01-2012
Dung lượng: 49.5 KB
Số lượt tải: 5
Nguồn: ST
Người gửi: Đào Thị Xuân (trang riêng)
Ngày gửi: 03h:58' 04-01-2012
Dung lượng: 49.5 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
VỀ CHỮ “LỄ” TRONG “TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN”
Nguyễn Minh Hào
Giáo dục ngày xưa thường nêu cao tiêu ngữ trong nhà trường: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Tiêu ngữ ấy đi vào cuộc sống xã hội, phản ánh quan niệm chung của quần chúng và trở thành tục ngữ (cũng gọi là cách ngôn – tức là lời nói dùng làm khuôn phép).
Câu tục ngữ trên có ý nghĩa như thế nào? Do đâu mà có quan niệm: “Tiên học lễ, hậu học văn”? Quan niệm ấy có còn ý nghĩa và giá trị gì đối với cuộc sống xã hội hiện đại?
Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, “Lễ” có nghĩa là cách bày tỏ kính ý – tức là cách thức bày tỏ lòng kính trọng. Theo Việt Nam từ điển của Hội Khai trí Tiến Đức và Việt Nam tân từ điển của Thanh Nghị, “Lễ” là những phép tắc mà con người phải tuân thủ khi thờ cúng hay trong giao tiếp xã hội.
Từ điển Tiếng Việt của Hội Ngôn ngữ học Việt Nam xuất bản vào những năm gần đây cũng giải thích tương tự nhưng có phần cụ thể hơn: chữ Lễ có nhiều nét nghĩa – Nét nghĩa thứ nhất, lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, một sự kiện có ý nghĩa nào đó; nét nghĩa thứ hai, lễ là những gì được đem biếu tặng hoặc dùng cúng kính quỷ thần; nét nghĩa thứ ba, lễ là những phép tắc phải theo cho đúng khi giao tiếp với người khác, thường là với người trên. Trong từ ghép, có những từ như: lễ giáo, lễ nghĩa, lễ phép… Nói “lễ giáo” là nói những điều giáo dục về khuôn phép sống theo tư tưởng Nho giáo. Nói “lễ nghĩa” là nói đến những phép tắc phải theo để cư xử trong gia đình, xã hội sao cho phải đạo người trên kẻ dưới theo tư tưởng Nho giáo. Nói “lễ phép” là nói đến thái độ được coi là đúng mực để tỏ lòng kính trọng đối với người trên. Điều đáng lưu ý là cách giải thích của Từ điển Tiếng Việt đã gắn khái niệm “lễ giáo” và cả “lễ nghĩa” với tư tưởng Nho giáo, và đặc biệt, quan hệ xã hội của “Lễ” thường là quan hệ kẻ dưới đối với người trên.
Theo nghĩa nguyên thủy, lễ là nghi thức thờ cúng của con người cổ đại đối với những thế lực siêu nhiên như trời đất, quỷ thần. Sách Thuyết Văn đã cắt nghĩa như sau: “Lễ, lý dã, sở dĩ sự thần chí phúc dã, tòng kỳ, tòng phong…” (Cái lý của LỄ là để thờ thần đem đến cái phúc, gồm chữ “kỳ” – nghĩa là thần đất và chữ “phong” – nghĩa là đầy đủ…).
Về sau ý nghĩa càng mở rộng, ngoài nghi thức thờ cúng; “lễ” bao hàm những phép tắc đối nhân xử thế trong quan hệ giao tiếp xã hội theo tôn ti trật tự phong kiến. Theo nghĩa rộng ấy, phạm vi của lễ còn bao gồm cả phong tục tập quán nữa.
Khổng Tử, nhà sáng lập đạo Nho, vị “vạn thế sư biểu”, của nhiều xã hội phong kiến phương Đông ngày xưa, đã coi “Lễ” là phương thức hữu hiệu nhất để gìn giữ kỷ cương và trật tự nhân quần xã hội. Người thầy ấy đã từng nhấn mạnh trong lời dạy học trò: “Bất học lễ, vô dĩ lập” nghĩa là “Không học lễ thì lấy gì để lập thân” (Luận ngữ). Các Nho gia môn đệ lớp sau đã dựa vào tư tưởng của thầy để san định kinh Lễ, biến nó trở thành một thứ kinh điển, một quyển sách giáo khoa trong ngũ kinh (gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu) cùng với tứ thư (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử) làm thành hệ thống tư tưởng Triết học Nho giáo – nền tảng của giáo dục và của tổ chức chính trị xã hội phong kiến Trung Quốc và Việt Nam ngày xưa. Nội dung kinh Lễ đi quá xa với tinh thần lời dạy của Khổng Tử, “Lễ” được định chế hóa và nó bị biến thành những nghi thức, phép tắc nghiêm khắc, cực đoan, gây nên những ràng buộc phiền toái, ép con người phải chịu đựng khắc khổ trong khuôn phép của lễ giáo.
Về mặt lý luận, theo quan niệm của Nho giáo, “Lễ” có tác dụng tiết chế, uốn nắn lòng ham muốn, bồi dưỡng tình cảm con người phát triển theo hướng tích cực lành mạnh, rèn luyện tính tình con người trở thành tập quán đạo đức. Có thể đưa ra một quan niệm về tác dụng giáo hóa của “Lễ” trong triết lý Tuân Tử - một học phái Nho giáo cách sau Khổng Tử hàng trăm năm, để qua đó hiểu được quan niệm của Nho gia và của xã
Nguyễn Minh Hào
Giáo dục ngày xưa thường nêu cao tiêu ngữ trong nhà trường: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Tiêu ngữ ấy đi vào cuộc sống xã hội, phản ánh quan niệm chung của quần chúng và trở thành tục ngữ (cũng gọi là cách ngôn – tức là lời nói dùng làm khuôn phép).
Câu tục ngữ trên có ý nghĩa như thế nào? Do đâu mà có quan niệm: “Tiên học lễ, hậu học văn”? Quan niệm ấy có còn ý nghĩa và giá trị gì đối với cuộc sống xã hội hiện đại?
Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, “Lễ” có nghĩa là cách bày tỏ kính ý – tức là cách thức bày tỏ lòng kính trọng. Theo Việt Nam từ điển của Hội Khai trí Tiến Đức và Việt Nam tân từ điển của Thanh Nghị, “Lễ” là những phép tắc mà con người phải tuân thủ khi thờ cúng hay trong giao tiếp xã hội.
Từ điển Tiếng Việt của Hội Ngôn ngữ học Việt Nam xuất bản vào những năm gần đây cũng giải thích tương tự nhưng có phần cụ thể hơn: chữ Lễ có nhiều nét nghĩa – Nét nghĩa thứ nhất, lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, một sự kiện có ý nghĩa nào đó; nét nghĩa thứ hai, lễ là những gì được đem biếu tặng hoặc dùng cúng kính quỷ thần; nét nghĩa thứ ba, lễ là những phép tắc phải theo cho đúng khi giao tiếp với người khác, thường là với người trên. Trong từ ghép, có những từ như: lễ giáo, lễ nghĩa, lễ phép… Nói “lễ giáo” là nói những điều giáo dục về khuôn phép sống theo tư tưởng Nho giáo. Nói “lễ nghĩa” là nói đến những phép tắc phải theo để cư xử trong gia đình, xã hội sao cho phải đạo người trên kẻ dưới theo tư tưởng Nho giáo. Nói “lễ phép” là nói đến thái độ được coi là đúng mực để tỏ lòng kính trọng đối với người trên. Điều đáng lưu ý là cách giải thích của Từ điển Tiếng Việt đã gắn khái niệm “lễ giáo” và cả “lễ nghĩa” với tư tưởng Nho giáo, và đặc biệt, quan hệ xã hội của “Lễ” thường là quan hệ kẻ dưới đối với người trên.
Theo nghĩa nguyên thủy, lễ là nghi thức thờ cúng của con người cổ đại đối với những thế lực siêu nhiên như trời đất, quỷ thần. Sách Thuyết Văn đã cắt nghĩa như sau: “Lễ, lý dã, sở dĩ sự thần chí phúc dã, tòng kỳ, tòng phong…” (Cái lý của LỄ là để thờ thần đem đến cái phúc, gồm chữ “kỳ” – nghĩa là thần đất và chữ “phong” – nghĩa là đầy đủ…).
Về sau ý nghĩa càng mở rộng, ngoài nghi thức thờ cúng; “lễ” bao hàm những phép tắc đối nhân xử thế trong quan hệ giao tiếp xã hội theo tôn ti trật tự phong kiến. Theo nghĩa rộng ấy, phạm vi của lễ còn bao gồm cả phong tục tập quán nữa.
Khổng Tử, nhà sáng lập đạo Nho, vị “vạn thế sư biểu”, của nhiều xã hội phong kiến phương Đông ngày xưa, đã coi “Lễ” là phương thức hữu hiệu nhất để gìn giữ kỷ cương và trật tự nhân quần xã hội. Người thầy ấy đã từng nhấn mạnh trong lời dạy học trò: “Bất học lễ, vô dĩ lập” nghĩa là “Không học lễ thì lấy gì để lập thân” (Luận ngữ). Các Nho gia môn đệ lớp sau đã dựa vào tư tưởng của thầy để san định kinh Lễ, biến nó trở thành một thứ kinh điển, một quyển sách giáo khoa trong ngũ kinh (gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu) cùng với tứ thư (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử) làm thành hệ thống tư tưởng Triết học Nho giáo – nền tảng của giáo dục và của tổ chức chính trị xã hội phong kiến Trung Quốc và Việt Nam ngày xưa. Nội dung kinh Lễ đi quá xa với tinh thần lời dạy của Khổng Tử, “Lễ” được định chế hóa và nó bị biến thành những nghi thức, phép tắc nghiêm khắc, cực đoan, gây nên những ràng buộc phiền toái, ép con người phải chịu đựng khắc khổ trong khuôn phép của lễ giáo.
Về mặt lý luận, theo quan niệm của Nho giáo, “Lễ” có tác dụng tiết chế, uốn nắn lòng ham muốn, bồi dưỡng tình cảm con người phát triển theo hướng tích cực lành mạnh, rèn luyện tính tình con người trở thành tập quán đạo đức. Có thể đưa ra một quan niệm về tác dụng giáo hóa của “Lễ” trong triết lý Tuân Tử - một học phái Nho giáo cách sau Khổng Tử hàng trăm năm, để qua đó hiểu được quan niệm của Nho gia và của xã
 







Các ý kiến mới nhất