Chào mừng quý vị đến với Website của Đào Thị Xuân.
Tranh Đông Hồ
NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA
TRANH ĐÔNG HỒ
MẶC LÂM
Tranh Đông Hồ vừa là nét đẹp xưa lại vừa là di sản văn hóa Việt Nam. Đã hơn năm thế kỷ trôi qua giờ đây tranh Đông hồ tuy không còn cực thịnh nữa nhưng nét đẹp của chúng không vì thế mà mất đi.

Những ngày Tết cách đây chỉ vài chục năm, tranh Đông Hồ là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong nhiều gia đình Việt Nam, đặc biệt tại miền Bắc.
Dải mây trắng đỏ lòm trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon.
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ,
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ.
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu.
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.
Sương trắng dỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa.
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh.
Ðồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ.
Con trâu đứng vờ dim hai mất ngủ,
Để lắng nghe người khách nói bô bô.
Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ,
Tìm đến chỗ đông người ngồi dở bán.
Một thầy khóa gò lưng trên tấm phản,
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân.
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu.
Áo cụ lý bị người chen sấn kéo.
Khăn trên đầu đương chít cũng tung ra.
Đào Thị Xuân @ 22:09 07/03/2009
Số lượt xem: 7193
- Chùm ảnh hoa súng (01/03/09)
- Chùm ảnh hoa phượng (01/03/09)
- Ngại Ngùng (27/02/09)
- Website của Đào Thị Xuân thân mến chào các bạn đồng nghiệp cùng các em học sinh (23/12/08)

Bài thơ "Chợ Tết" trên đây có lẽ đã vẽ ra một bức tranh sống động của sinh hoạt Tết của miền quê Việt Nam của thập niên 40, trong đó Đoàn Văn Cừ, tác giả bài thơ không quên chi tiết của một anh hàng tranh mà hình ảnh "kĩu kịt" quẩy tranh ra chợ bán trong ba ngày Tết đã khắc họa lên được một thời vàng son của những bức tranh dân gian như tranh Hàng Trống (Hà Nội), tranh Làng Sình (Huế), tranh Kim Hoàng (Hà Tây) nhưng trên hết vẫn là tranh làng Đông Hồ thuộc tỉnh Bắc Ninh.
* Làng Đông Hồ
Làng Đông Hồ thuở xa xưa có tên là Làng Mái. Từ cuối thế kỷ 19 đến năm 1944 là thời kỳ cực thịnh của dòng tranh Đông Hồ. Lúc ấy, tất cả những người trong làng đều tham gia việc làm tranh và họ xem đây là một nghề cao quý của làng. Tranh Đông Hồ được tiêu thụ nhiều nhất vào dịp Tết, vì vậy việc làm tranh tập trung nhất vào khoảng tháng 7, tháng 8, cả làng tất bật để chuẩn bị cho mùa tranh Tết.
Theo nhiều tài liệu viết lại, lúc đó khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp, không một mảnh đất trống nào không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy: từ sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm, đường làng, dọc theo triền đê cho đến các nóc nhà, nóc bếp và người ta vừa làm tranh vừa sống trong không khí lễ hội.
Có lẽ vì thế, tính cách đình đám ảnh hưởng rất lớn vào tranh Đông Hồ, những nét viền mạnh mẽ hòa cùng bố cục cứng cáp cũng như màu sắc rực rỡ chân quê khiến người xem bị thuyết phục vì tính chất quần cư lộ rõ trên từng chủ đề một.
Nghệ thuật tạo hình dân gian của nhiều dân tộc trên thế giới thường được xem xét qua nhiều khía cạnh mà một trong những khía cạnh quan trọng nhất là sự tái hiện lại giai đọan lịch sử của dân tộc đó.
Sinh hoạt hàng ngày và những nghi thức mang đậm nét văn hóa hoặc tôn giáo thường hiển hiện trên từng nét vẽ trong những tác phẩm hội họa hoặc các motif đặc trưng trong tác phẩm điêu khắc mà mỗi dân tộc sở hữu riêng. Dòng tranh Đông Hồ so niên đại thì còn rất trẻ đối với nhiều nền mỹ thuật tuy nhiên không vì thế mà bản sắc riêng không có.
* Kỹ thuật chế bản
Nét riêng ở đây không thể không kể đến kỹ thuật chế bản mà tính chất mộc mạc dân gian lên đến mức cao nhất. Kỹ thuật tranh Đông Hồ bắt đầu với những tờ giấy được chế tạo công phu được gọi là giấy dó mà theo tư liệu của Wikipedia thì giấy dó là một loại giấy được sản xuất từ vỏ cây dó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc giòn gẫy, ẩm nát. Với đặc tính chống ẩm, giấy dó giúp cho các tác phẩm nghệ thuật không bị ẩm mốc và có tuổi thọ tương đối cao.
Giấy dó được nghệ nhân Đông Hồ sáng tạo lại thành giấy của riêng làng mình bằng cách nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò sống ở biển và tráng bột này lên mặt giấy dó. Bột điệp có đặc tính óng ánh khi ra nắng và làm màu trắng của nền giấy có hiệu ứng xa gần do được quét nhiều lớp chồng lên nhau.
Người ta dùng lá thông làm chổi để quét bột điệp nên những khe hở của lá tạo các đường rãnh li ti khiến cho mặt giấy có những đường gân lồi lõm nên khi sờ lên có cảm giác thô ráp như sờ trên mặt vải thổ cẩm. Hiệu ứng thứ đến là do cấu tạo thô ráp, tranh Đông Hồ gần gũi với nét dân dã hơn do đó lột tả được chủ đề mà dòng tranh này thường khai thác.
Màu sắc trong tranh cũng là một khai phá độc đáo của dòng tranh Đông Hồ, chúng tôi hỏi chuyện nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, người được xem là một trong vài người còn sót lại của làng Đông Hồ vẫn còn quan tâm đến sự bảo tồn và phát triển của lọai tranh này. Ông Chế cho chúng ta biết một vài khía cạnh độc đáo của nghệ nhân Đông Hồ trong việc xử dụng và khai thác chất liệu.
Tranh Đông Hồ được in hoàn toàn bằng tay với nhiều bản màu; mỗi màu dùng một bản, và màu đen còn được gọi là bản nét in sau cùng. Nhờ cách in này, tranh được "sản xuất" với số lượng lớn và không đòi hỏi kỹ năng cầu kỳ nhiều. Tuy nhiên vì in trên ván gỗ một cách thủ công, nên tranh bị hạn chế về mặt kích thước, thông thường các tờ tranh không lớn hơn 50 cm mỗi chiều.
* Mang nhiều ý nghĩa
Tranh Đông Hồ được truyền tụng nhiều vì nét dí dỏm xen lẫn tính chất nông dã của nó. Người dân Việt cảm thấy gần gũi vì tranh lột tả những hình ảnh chung quanh làng quê Việt Nam mà trong đó những sinh hoạt hàng ngày hiển hiện lên mặt giấy khiến tranh Đông Hồ như một tấm gương trong soi lấy cảnh đời của người sở hữu nó.
Tranh Đông Hồ ngày Tết càng đằm thắm hơn nữa khi mục đích được nhắm tới là miêu tả hạnh phúc và sự sung túc trong đời sống hàng ngày của người dân quê. Những chủ đề thường được lập đi lập lại trong tranh Đông Hồ là hình ảnh của những con vật tượng trưng được sự cần cù chất phác nhưng cao thượng và chịu thương chịu khó.
Gà tượng trưng cho hy sinh, đùm bọc được nhắc nhở nhiều trong tranh Đông Hồ nhưng heo và cá cũng được dùng để mô tả ý hướng vươn lên trong cuộc sống. Con trâu được đem vào tranh với những nét ngộ nghĩnh chân quê lột tả được cái tinh nghịch tiềm ẩn trong từng con người nông dã. Cuộc sống đời thường cũng được mang vào tranh, từ "đám cưới chuột" cho đến "đánh ghen", "hái dừa" đều mô tả xuất sắc những sinh hoạt làng quê trong cộng đồng nông nghiệp.
Cũng như nhiều hoạt động văn hóa khác của Việt Nam, Tranh Đông Hồ cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi những dòng tranh Trung Hoa trên những chủ đề quen thuộc mang tính khát khao sự no đủ, giàu có.
Tuy nhiên qua những đường nét có tính ước lệ cao cũng như ý hướng muốn vượt thoát khỏi tầm ảnh hưởng của nước láng giềng được thấy rất rõ trên cách xử dụng màu sắc và bố cục chặt chẽ, tranh Đông Hồ đã vượt qua lằn ranh thủ công mỹ nghệ để tíến gần hơn với nghệ thuật dân gian.
Một vài tờ tranh Đông Hồ bên cạnh mâm ngũ quả ngày Tết sẽ là thứ mà các bà nội trợ ngày xưa không thể quên khi đi chợ trong những ngày áp Tết. Sự hiện diện của một bức tranh Đông Hồ trên vách trong ba ngày Tết là một ấm áp có thể cảm nhận được dễ dàng trong bất cứ gia đình Việt Nam nào. Nếu không như thế thì ông Tú đất Vị Xuyên đã không sung sướng hô vang:
Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Om sòm trên vách bức tranh gà.
Tranh dân gian góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ các vốn văn hoá cổ xưa của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú và đa dạng. Trong các dòng tranh dân gian, tranh Đông hồ khá gần gũi với đại đa số dân chúng Việt Nam, nhắc tới hầu như ai cũng đều biết. Tranh gần gũi vì nó gắn với làng quê, ngõ xõm, với cuộc sống lao động của người nông dân bình dị, chất phác và hình ảnh của nó đã đi vào thơ, văn:
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”
Không phải tự nhiên mà tranh Đông Hồ được nhà thơ Hoàng Cầm nhắc đến đầy tự hào và kiêu hãnh trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” như một đặc sản nghệ thuật của vùng quê Kinh Bắc. Cái làm nên nét đặc sắc độc đáo của tranh Đông Hồ chính là chất liệu làm tranh, được chế biến thủ công từ các nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên: Giấy làm từ cây dó, màu đỏ từ gạch non, màu vàng từ hoa điệp vàng, màu đen từ lá tre đốt, màu trắng được nghiền từ vỏ sò, ốc…
Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy người dân đã tạo thêm nhiều màu sắc khác nhau từ việc trộn lẫn các màu. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy và màu, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận trong từng giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ, quết điệp rồi lại phơi giấy cho khô lớp điệp, khi in tranh phải in từng màu lần lượt, nếu có 5 màu thì 5 lần in, mỗi lần in là một lần phơi…
Cứ thế, dưới ánh sáng mặt trời lấp lánh từng hình ảnh, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt của người dân, những hình ảnh của cuộc sống thường ngày ... như “bừng” sáng trên giấy dó. Mọi giai đoạn đều thật công phu nên đòi hỏi người làm tranh luôn cẩn trọng, cầu kì, chú ý đến từng chi tiết nhỏ để có được một bức tranh đẹp.
Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.
Tranh Đông Hồ xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Làng Mái là tên gọi dân gian xưa kia của làng tranh Đông Hồ bây giờ. Vào thế kỷ XVI tranh Đông Hồ xuất hiện nhưng không ai thống kê hết được có bao nhiêu mẫu tranh mà chỉ biết gồm có 5 loại là: Tranh thờ, Tranh lịch sử, Tranh chúc tụng, Tranh sinh hoạt và Truyện tranh. Từ cuối thế kỷ XIX đến 1944 là thời kì cực thịnh của làng tranh. Lúc ấy, trong làng có 17 dòng họ thì tất cả đều làm tranh.
Đến hẹn lại lên, cứ khoảng tháng 7, tháng 8 hàng năm là cả làng đã tất bật để chuẩn bị cho mùa tranh Tết, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp, không một mảnh đất trống nào không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy: từ sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm, đường làng, dọc theo triền đê cho đến các nóc nhà, nóc bếp….Không khí trong làng rộn rạo từ sáng đến tối suốt mấy tháng liền như thế.
Mỗi năm, chợ tranh chỉ nhộn nhịp và tấp nập nhất vào tháng Chạp, họp 5 phiên vào các ngày 6, 11,16, 21 và 26. Bà con, du khách thập phương đổ về mua tranh đông vui, tấp nập.
Hàng nghìn, hàng triệu bức tranh các loại được mang ra xếp gọn lại bán cho những lái buôn, hoặc bán lẻ cho các gia đình mua về làm tranh treo tết để mang phú quý, vinh hoa cho nhà mình.
Sau phiên chợ tranh cuối cùng (26/12 âm lịch) những gia đình nào còn lại tranh đều bọc kín đem cất đi chờ đến mùa tranh năm sau lại mang ra chợ tranh bán. Đến chợ tranh làng Hồ không chỉ có khách buôn và mua tranh, mà có cả những người hâm mộ nghệ thuật tranh dân gian thích thăm thú, xem tranh và đi trảy hội mùa xuân.
Kiệu son lộng lẫy lọng hoa vàng !
Nàng dâu xứ chuột chân đi đất,
Ngón nhỏ bùn non vẫn dính chân !
(Đám cưới chuột)
Tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và có sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ con người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài cũng bởi những đề tài trên tranh phản ánh đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hoá người Việt.
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã giải thích về ý nghĩa của việc dùng màu sắc sao cho phù hợp với mỗi đề tài khác nhau: nền màu đỏ cho tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội ngột ngạt của không khí lúc đó, nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên các bức tranh ngày tết, nền màu hồng nhạt cho tranh làng quê yên bình …
Đôi khi những bức tranh Đông Hồ còn được những nghệ nhân trang trí kèm theo những từ chỉ dẫn hoặc những tứ thơ tình tứ, lãng mạn,
Cứ bóc tách từng lớp nang văn hoá hiện trên mỗi bức tranh Đông Hồ cũng đủ cho chúng ta thấy vốn liếng văn hoá Việt thuần khiết và trong sáng, đa dạng và vô cùng độc đáo.
Các nghệ nhân Đông Hồ đã chuyển hóa những lời hay - ý đẹp, những kinh nghiệm đúc rút trong cuộc sống từ ngàn đời để lại vào tranh dân gian với những cách thể hiện rất riêng
Những ai đã yêu thích tranh Đông Hồ hẳn rất quen thuộc với các tranh gà: Gà mẹ con, gà đại cát, gà dạ xướng, kê cúc. Chẳng hạn bức "Gà thủ hùng".
Theo sử sách xưa kể lại, vào khoảng năm 1915 cụ Chánh Hoàn gả con gái cho một anh Phán, Cụ Đám Giác ( tên thật là Nguyễn Thể Thức (1882 - 1943) là một nghệ nhân sáng tác nổi tiếng của Đông Hồ. Ngoài tranh về cuộc sống ở nông thôn cụ còn vẽ nhiều tranh truyện tranh phong cảnh, tranh tố nữ...)đã mừng đám cưới bằng một mẫu tranh mới: một gia đình gà gồm gà trống, gà mái và đàn con.
Bằng ngôn ngữ ước lệ, các con gà được cách điệu hóa, chúng sống động mà không cần giống thực. Gà mái có bố cục theo đường xoắn ốc - tạo nên sự nũng nịu. Gà trống được đặt trong một hình thang, đáy lớn nằm trên - tạo nên tư thế chủ gia đình, che chở cho gà mái và đàn con. Bức tranh gợi không khí hạnh phúc, đầm ấm trong một gia đình. Trên tranh có dòng chữ nôm "Lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông" một lời chúc thật sâu sắc! Bức tranh này được xây dựng từ câu phương ngôn: "Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh".
Mỗi dòng tranh Dân gian ngoài điểm chung giống nhau, lại có những điểm khác nhau. Sự khác nhau đó chính là tô đậm sự phong phú kho tàng Nghệ thuật Tranh Dân gian Truyền thống (có khởi điểm từ cuối thế kỷ XVI) - cách ngày nay ngót năm trăm năm lịch sử.
Tranh Dân gian từ xưa sáng tạo và được bán trong những ngày giáp tết, dân chúng mua về treo, dán trong nhà đón Tết năm mới, vì vậy còn được gọi là tranh Tết.
Mỗi dòng tranh Dân gian ngoài điểm chung giống nhau, lại có những điểm khác nhau. Sự khác nhau đó chính là tô đậm sự phong phú kho tàng Nghệ thuật Tranh Dân gian Truyền thống (có khởi điểm từ cuối thế kỷ XVI) - cách ngày nay ngót năm trăm năm lịch sử.
Các dòng Tranh Dân gian như: Tranh thờ làng Sình (Lại Ân - Huế), Tranh Kim Hoàng : (Kim Bảng - Hoàng Bảng xứ Đoài - Hà Tây) ván gỗ khắc, chủ yếu là bản nét đen giữ hình, in trên giấy hồng điều; màu sử dụng chủ yếu là màu bột pha keo và tô vẽ thêm bằng tay. Dòng Tranh Hàng Trống: ván khắc cũng chỉ làm bản khắc nét đen, in trên giấy trắng, rồi kết hợp dùng màu nước, màu phẩm để tô vờn, vẽ thêm bằng tay. Dòng tranh Dân gian Đông Hồ kinh Bắc có những nét độc đáo và có khác là: ngoài bản nét đen chủ đạo, còn được khắc các bản gỗ in màu (Tức là tranh mẫu có bao nhiêu màu thì có bấy nhiêu bản gỗ khắc in màu đi cùng). Đặc biệt là màu sử dụng in tranh chỉ dùng các loại màu chế từ các sản vật có trong tự nhiên. Các màu chính (còn gọi là màu thuốc cái) như: Đen: (Than lá Tre già, qua công đoạn đốt, ngâm, xay nhuyễn và lọc); Vàng: chế từ hoa Hoè; Xanh: chế từ lá Tràm; Đỏ: chế từ hoa Hiên; Nâu đỏ: chế từ son đá mềm được mài; giã nhỏ và dây kỹ và ngâm nhiễn; Trắng: chế từ vỏ Sò, vỏ Điệp được làm ải, xay nhỏ và ủ...) chổi quét điệp bằng bó lá thông, hồ Nếp làm chất kết dính... Tranh Dân gian Đông Hồ không dùng tay vẽ thêm như các dòng tranh khác, mà đều thông qua chất liệu gỗ (khắc và in) cùng với chất liệu màu chế từ sản vật tự nhiên, đã cho một cảm mỹ tạo hình, về vẻ đẹp của chất liệu, độc đáo của dòng tranh này.
Tranh Dân gian Đông Hồ xưa kia có những đề tài gần như riêng về chủng loại (về sau các dòng tranh có giao thoa với nhau, nên có mở rộng thêm). Các loại như: Đề tài Lịch sử: thường gắn với các nhân vật như các tranh: Hai bà Trưng, Bà Triệu, Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận, Trần Hưng Đạo chiến thắng quân Nguyên... Đề tài sinh hoạt như các tranh: Đấu vật, Đánh đu, Hội làng, Hứng dừa, Đánh ghen, Chăn trâu -thổi sáo, Chăn trâu - thả diều... Các tích văn học, hoặc dân gian: Kiều, Thạch Sanh, hoặc 4 tố nữ với Cầm, Kỳ, Thi, Hoạ... Đặc biệt nổi bật là tranh các con vật như: các tranh Lợn: Lợn đàn, Lợn độc, Lợn ăn cây dáy. Các Tranh Gà: Gà đàn, Gà -Đại cát, Gà -Thư hùng, Gà trống - nghinh xuân. Tranh các con vật khác như: Vịt, Trâu, Mèo, Rồng - Rước Rồng, Hổ - Ngũ Hổ, Chuột, Cá, Cóc. Đề tài tứ quý: Mai - Hạc (mùa Xuân), Phù dung - Chim Trĩ (mùa Hạ), Ngô Đồng - Chim Phượng (mùa Thu), Tùng - Chim Công (mùa Đông). Con vật khi là đề tài riêng, hoặc khi được nghệ nhân sáng tạo em bé với gia cầm như bức Vinh hoa, Phúc Lộc song toàn với (em bé ôm gà trống), (em bé ôm rùa), (em bé ôm cá); Hoặc đưa con vật vào tranh với lối ẩn dụ nhằm phản ánh nội dung xã hội con người như các tranh: Đám cưới chuột, Thày đồ Cóc...
Con Lợn gắn bó bao đời với con người. Con Lợn có truyền thuyết xa xưa, gắn với Lịch pháp, sử dụng thời khắc: năm, tháng, ngày, giờ vận vào con người (khi chào đời là giờ sinh). Trong 12 sinh tiêu, được tượng trưng bởi 12 con vật (còn gọi là 12 con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) và với sự hành âm hoặc dương kết hợp của từng mỗi con vật đó để phân tích cá tính, tiên đoán vận mạng của mỗi con người, đã được tích hợp kinh nghiệm từ ngàn xưa tổng kết lại. Con Lợn gọi là Hợi, trong 12 con giáp nó được xếp ở vị trí cuối cùng.
Làng có nghề làm tranh, con Lợn vào tranh dân gian Đông Hồ, gọi là Tranh Lợn. Ngày tết mua tranh dân gian: Tranh Lợn, Tranh Gà... về treo cùng là thưởng thức cái đẹp tạo hình, còn biểu hiện ước muốn năm mới tăng gia sản xuất được sung túc, đời sống no đủ. Tranh lợn đã đi vào đời sống thẩm mỹ dân gian tự bao đời.
Về Đông Hồ tìm hiểu nghệ thuật tranh lợn, thấy số lượng ván khắc mẫu tranh lợn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ngày nay ta còn thấy có ba loại bản khắc tranh mẫu để in ra các Tranh Lợn bán trong dịp Tết, đó là:
1. Tranh Lợn đàn (thể hiện Lợn mẹ và đàn con vây bên cạnh).
2. Tranh Lợn độc (thể hiện một con Lợn đang ăn bên bồn).
3. Tranh Lợn ăn cây Dáy (thể hiện con Lợn đang ngoạm nhai cây Dáy)
Nghệ thuật Tranh Lợn dân gian Đông Hồ: Với cả ba loại tranh mẫu (khắc-in) về tranh Lợn đều có phong cách nhất quán, hoà đồng và nổi bật trong dòng tranh dân gian Đông Hồ. Đặc điểm chung của các con Lợn trong tranh dân gian Đông Hồ đều là: hình tượng Lợn béo, thể hiện theo dáng trông nghiêng. Nghệ nhân sáng tác theo chiều này nhằm bộc lộ toàn bộ hình - dáng béo tốt của con Lợn. Trên thân mình Lợn đều có hai xoáy Âm - Dương. Hai xoáy âm - dương này nằm phía trên ngang mình Lợn, vị trí (gần vai và mông) phía trên của 2 chân (trước và sau), thu hút sự chuyển động, làm cho ta càng có cảm giác như thấy con Lợn có dáng sinh động. Nó vừa là cái đẹp hữu hình, vừa là ẩn chứa quan niệm về ngũ hành.
Các con Lợn đều là béo tốt: Mặt Lợn to, tai lớn. Mắt có vành mi. Mõm Lợn nghiêng, nhưng Mũi lại gần như quay ra hướng chính diện, tạo dáng ngồ ngộ và động. Ngấn mõm đều có 3 ngấn, và không quên hai ngấn mép của con Lợn như đang ăn ngấu nghiến. Bàn chân Lợn có 3 móng, trông rất vững chân đế. Lưng Lợn với độ cong hơi võng, được thể hiện bằng một hoặc hai nét to bản. Nét của ngấn thủ (phần đầu lợn) với chân trước, vòng bụng và nét ngấn của bắp đùi sau là nét to dầy nối vào nét cong lượn của bụng Lợn. Hình dáng và đường nét to dầy đã tạo nên con lợn có dáng béo, khoẻ, vũng chãi, thể hiện ý tưởng ước muốn về phồn thịnh của tăng gia sản xuất, đời sống ấm no, hạnh phúc thanh bình. Riêng đuôi Lợn có những thay đổi linh hoạt, tạo cho mỗi loại tranh Lợn thêm phong phú. ở bức Lợn ăn cây Dáy đuôi Lợn xoay ra cong lên ở trên đùi sau. ở bức Lợn ăn ở bồn đuôi đặt trên ngấn khuỷ chân sau. Đuôi lợn ở bức Lợn đàn đuôi lại để thẳng xuống. Song các đuôi Lợn có điểm chung nhất là: lông cuối đuôi đều được cách điệu như một chiếc quạt hình lá đề, và đều quay ra phía trước. Trên các tranh Lợn nghệ nhân thể hiện đảo ngược điểm nhìn của lông đuôi và mũi Lợn, kể cả tai Lợn (đều theo hướng trông thẳng), trên toàn thân Lợn (là trông nghiêng), pha chút kiểu nghệ thuật bản năng nguyên thuỷ - vẽ: mặt nghiêng nhưng mắt lại cho quay ra phía trước), làm cho hình tượng trong tranh thêm sống động.
Với ba mẫu ván khắc: Tranh Lợn độc, thể hiện con lợn béo đang ăn bên bồn. Tranh Lợn ăn cây Dáy thể hiện con Lợn đang ngoạm cây Dáy để ăn. Tranh Lợn đàn, thể hiện đàn lợn con đang quây quần bên Lợn mẹ, mỗi con mỗi dáng vẻ: con muốn trèo lên lưng, con muốn rúc vào bụng mẹ, các con khác đang hướng vào mầm lá khoai để ăn... tất cả đều có bố cục khoẻ, giản dị, giàu chất trang trí cách điệu, mà đậm đà tính hiện thực. Chứa đựng ước muốn của người nông dân về tăng gia sản xuất, về cuộc sống sung túc, đông vui hoà thuận, hạnh phúc, con cháu đầy đàn. Đường nét trong tranh Lợn thiên về diễn nét to, đậm, giản dị mà cô đọng, chắc khoẻ, chân thực, biểu hiện tình cảm chân thật, đôn hậu với phong cách tạo hình đậm đà bản sắc dân tộc. Tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ đã đóng góp sắc thái phẩm chất tạo hình riêng, độc đáo. Nó còn là cầu nối giữa truyền thống và hiện đại trong dòng nguồn của Mỹ thuật Việt Nam.
Tự xa xưa Đông Hồ và nghề làm tranh đã có câu ca dao xứ sở:
"Hỡi cô thắt bao lưng xanh,
Có về làng Mái với anh thì về.
Làng Mái có lịch có lề,
Có ao tắm mát, có nghề làm tranh.
Nàng về nàng ở với anh,
Cùng nhau “Vẽ, khắc” in tranh Lợn, Gà”
Làng Mái cũng chính là làng Đông Hồ, một làng cổ nổi tiếng có nghề làm Vàng Mã, và nghề làm Tranh khắc gỗ Dân gian.
Những bức Tranh Lợn và những Tranh Gà mộc mạc hồn quê đã trở thành di sản nghệ thuật và nó không thể thiếu trong những ngày tết tự xa xưa, nhất là năm mới lại đúng vào năm Hợi. Nhà nhà đi sắm Tết không quên mua Tranh Lợn về trang hoàng, đón một năm mới an khang - thịnh vượng - hạnh phúc, chơi tranh thành nhu cầu trong đời sống tinh thần của nhân dân. Một nét đẹp văn hoá truyền thống lâu đời còn lưu lại đến ngày nay.